Hiếu Lê: “Gốm là lĩnh vực mà gần như không có gì mình tự nghĩ ra từ con số không”
Một nghệ nhân gốm đã dành hơn 25 năm bầu bạn với đất, bàn xoay và lò nung.
Một người đến với gốm từ thời trang. Giữa hai thế hệ, gốm Biên Hòa hiện lên như câu chuyện chưa khép lại, nơi những giá trị cũ tiếp tục được thử nghiệm, làm mới và kể lại theo một cách riêng.
Nghệ nhân gốm vuốt tay Dương Minh Tâm và học trò Hiếu Lê (từ trái sang)
Tôi quen Hiếu Lê khoảng năm năm trước, khi còn làm việc tại một tòa soạn thời trang. Lúc ấy, tôi là biên tập viên, còn Hiếu đang theo đuổi nghề thiết kế. Trước khi trở thành Giám đốc Sáng tạo của thương hiệu GIAN SAIGON, Hiếu từng có thời gian làm việc hai năm tại GIA STUDIOS, ở mảng thời trang nữ.
Nhưng trong gần hai năm trở lại đây, Hiếu bắt đầu dành nhiều thời gian hơn cho một chất liệu hoàn toàn khác: đất và men. Từ thời trang, anh bước vào thế giới gốm, học cách tạo hình, nung, trang trí, làm quen với nhiệt độ và tìm cách tiếp nối một dòng chảy văn hóa bằng ngôn ngữ của thế hệ mình. Hành trình ấy đưa Hiếu đến với gốm Biên Hòa.
Không dừng lại ở việc tìm hiểu, Hiếu từng bước đưa những thử nghiệm với đất và men ra khỏi xưởng, góp mặt trong nhiều triển lãm gốm tại TP. HCM như Duyên kỳ ngộ (2024), Hiểu cảnh (2025), Crafting in Progress (2026) tại Lotus Gallery và gần đây là Gốm 2026 tại Hội Mỹ thuật TP. HCM.
Tác phẩm của Hiếu ở các triển lãm.
Lần rẽ hướng này, hóa ra không bất ngờ như tôi từng nghĩ, mà là một bước đi dễ hiểu. “Hiếu nghĩ người làm sáng tạo thường có điểm chung là luôn muốn đặt câu hỏi và tìm một cách biểu đạt mới. Sau nhiều năm làm việc với vải vóc, Hiếu bắt đầu tò mò về những chất liệu khác mà mình chưa hiểu hết. Khi đến với đất và men, Hiếu có cơ hội tiếp xúc với nhiều dòng gốm khác nhau, nhưng gốm Biên Hòa khiến Hiếu gần như phải lòng”, Hiếu Lê chia sẻ.
Gần 350 năm hình thành và phát triển, truyền thống làm gốm tại Biên Hòa mang theo cả diễn trình lịch sử phong phú, sự giao thoa giữa kỹ thuật, nghệ thuật và văn hóa. Dòng gốm này hình thành từ sự kết hợp giữa tay nghề chế tác bản địa, kỹ thuật của gốm Cây Mai ở Sài Gòn – Chợ Lớn, sau đó tiếp nhận thêm những ảnh hưởng từ Pháp.
Một trong những bước ngoặt quan trọng là sự ra đời của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa vào năm 1903, đặc biệt với những đóng góp của vợ chồng Robert và Mariette Balick (từ năm 1923). Từ đây, kỹ thuật khắc chìm, men màu, chấm men cùng ngôn ngữ mỹ thuật riêng của gốm Biên Hòa dần định hình, mở ra một thời kỳ hưng thịnh cho dòng gốm này.
Một trong những tác phẩm đầu của Hiếu, nổi bật với kỹ thuật khắc và chấm men của gốm Biên Hoà.
Có lẽ vì thế, Hiếu đến với gốm Biên Hòa không chỉ bởi vẻ đẹp của men hay hoa văn, mà còn bởi cả một hệ thống kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ và tinh thần sáng tạo phía sau. “Càng tìm hiểu, Hiếu càng thấy đây không phải ngôn ngữ đã khép lại trong quá khứ, mà vẫn còn rất nhiều khả năng để người làm hôm nay tiếp tục đối thoại”, anh bộc bạch.
Càng tìm hiểu, Hiếu càng thấy đây không phải ngôn ngữ đã khép lại trong quá khứ, mà vẫn còn rất nhiều khả năng để người làm hôm nay tiếp tục đối thoại. – Hiếu Lê
Và cũng từ gốm Biên Hòa, Hiếu gặp nghệ nhân Dương Minh Tâm. Hơn 25 năm gắn bó với đất sét, bàn xoay và lò nung, nhưng cơ duyên đưa thầy Tâm đến với nghề lại bắt đầu từ một câu chuyện giản dị, gần như chẳng có sự sắp đặt nào. “Thầy bắt đầu làm gốm hồi khoảng 9 hay 10 tuổi gì đó”, thầy nhớ lại rồi kể với tôi.
Thầy Tâm đã không bắt đầu từ đam mê, mà từ sự hiếu kỳ. Khi còn nhỏ, nhà thầy ở gần một lò gốm, ngày nào đi học cũng ngang qua. Lò khi ấy không có cổng hay hàng rào, nên đi ngang là có thể thấy hết mọi hoạt động bên trong. Cứ nhìn thấy mỗi ngày, cậu bé Tâm dần tò mò về công việc của những người thợ.
Khi ấy, gốm chủ yếu là những vật dụng quen thuộc trong đời sống như tô, chén, đĩa, lu, khạp hay chậu hoa. Đi ngang mãi thành quen, rồi thầy bắt đầu lân la vào lò, ngồi xem những người thợ làm việc và xin phụ những việc nhỏ: gom đất, dán hoa văn, làm các chi tiết trang trí, chọn củi cho lò nung. Sự hiếu kỳ ngày bé cứ thế kéo thầy ở lại với gốm.
Hơn 25 năm sau, mối duyên ấy đã đi qua không ít thăng trầm cùng chính nghề gốm. Từ những ngày thịnh vượng đến lúc gốm thủ công đứng trước nguy cơ mai một, thầy Tâm từng phải chuyển sang làm gốm công nghiệp, thậm chí tạm rời bàn xoay để mưu sinh. Nhưng rồi tình yêu dành cho gốm cứ thế đưa thầy Tâm quay lại với nghề “vẽ hình cho đất”.
Khi còn làm gốm công nghiệp cho một công ty nước ngoài, thầy Tâm tự gọi mình là “thợ kỹ thuật” thay vì thợ gốm. Công việc khi ấy chỉ xoay quanh một vài công đoạn cố định, lặp lại theo quy trình, khác hẳn với sự tự do và sáng tạo của gốm thủ công. “Gốm nó không còn cái hồn của gốm nữa. Nó thô và cứng lắm! Một ngày thầy có thể làm ra rất nhiều sản phẩm, nhưng thực ra không có sản phẩm nào đối với thầy đẹp hết. Cho dù nó bóng bẩy, cho dù nó có hình khối đẹp, nhưng vẫn thiếu cái hồn, cái chất của gốm. Và thiếu cái bay, cái phiêu của người thợ”, thầy Tâm kể.
Đến lúc nhận ra công việc ấy đang lấy đi tình yêu của mình với gốm, thầy quyết định rời đi và trở lại với gốm thủ công. Dẫu vậy, khoảng thời gian ấy vẫn cho thầy vốn kiến thức đáng giá. Làm việc cùng các chuyên gia đến từ Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ và Philippines, thầy có cơ hội tiếp xúc với những cách làm và văn hóa gốm khác nhau.
Những trải nghiệm ấy càng khiến thầy muốn hiểu sâu hơn về nghề của mình. Thầy dành hẳn một năm đi qua nhiều làng gốm như Bát Tràng, Phước Tích, Thanh Hà, Phù Lãng, Bàu Trúc, Vĩnh Long… để tìm hiểu sự khác biệt trong văn hóa, kiểu dáng và chất liệu của từng vùng. Đi nhiều nơi, học nhiều cách làm, nhưng sau cùng thầy vẫn trở về với gốm Biên Hòa và bắt đầu nghĩ đến việc truyền lại những gì mình biết cho người trẻ. “Không muốn nghề gốm mất đi thì chỉ có cách truyền nghề và lan tỏa nó”, thầy chia sẻ.
Không muốn nghề gốm mất đi thì chỉ có cách truyền nghề và lan tỏa nó. – thầy Dương Minh Tâm
Từ một người thợ từng học nghề, thầy Tâm nay trở thành người truyền nghề cho nhiều lớp thợ trẻ, trong đó có Hiếu. “Thầy có thể dành rất nhiều thời gian cho một chi tiết rất nhỏ trên món đồ gốm. Lúc đó, Hiếu mới bắt đầu hiểu rằng sự tỉ mỉ trong nghề không phải để làm mọi thứ trở nên cầu kỳ, mà vì mỗi thao tác đều để lại dấu vết trên kết quả cuối cùng”, Hiếu chia sẻ.
“Bài học đầu tiên Hiếu nhận được từ thầy có lẽ là đừng vội. Trước đây làm thiết kế, Hiếu khá quen với tốc độ. Nhưng làm gốm thì đất có thời gian của đất, men có thời gian của men và lửa cũng có thời gian của nó”, Hiếu nói thêm. Nhớ lại những ngày đầu học nghề, Hiếu vẫn nhớ những lần tập cách “chiều” đất và men. Nếu vải vóc cho phép người làm chủ động hơn trong cách xử lý, thì với đất, men và lửa, anh buộc phải học cách quan sát, chờ đợi và kiên nhẫn thuận theo nhịp của vật liệu.
“Có những thứ mình chỉ biết kết quả sau khi ra khỏi lò. Khi kết quả không như mong muốn thì cũng không thể sửa lại như với bản thiết kế trên giấy hay món đồ thời trang. Dần dần, Hiếu hiểu rằng có những phần của quá trình mình có thể kiểm soát, nhưng cũng có những phần phải tôn trọng tính tự nhiên của vật liệu”, anh bộc bạch.
Bài học đầu tiên Hiếu nhận được từ thầy có lẽ là đừng vội. Trước đây làm thiết kế, Hiếu khá quen với tốc độ. Nhưng làm gốm thì đất có thời gian của đất, men có thời gian của men và lửa cũng có thời gian của nó. – Hiếu Lê
Gốm chất lượng phải đạt được bốn yếu tố: “Nhất dáng, nhì xương, tam men, tứ trí”. Trong quá trình thực hành, Hiếu nhận ra “tam men” cũng là lúc người thợ phải học cách chấp nhận những điều nằm ngoài kiểm soát. “Một màu men nhìn trên mẫu thử và lúc đi qua lửa đôi khi cho những kết quả rất khác nhau. Chỉ thay đổi nhỏ về độ dày, cách chấm men, nhiệt hay nền đất cũng có thể làm màu sắc thay đổi. Ban đầu điều đó khá khó chịu với một người quen làm thiết kế và luôn muốn kiểm soát kết quả như Hiếu. Nhưng càng làm, Hiếu càng thấy chính sự không hoàn toàn kiểm soát được ấy lại là một phần rất đẹp của gốm. Tam men là điểm Hiếu phải học cách buông mình nhất”, anh chia sẻ.
Nếu “tam men” dạy Hiếu cách buông, thì “tứ trí” lại là phần anh được tự do nhất. “Có lẽ vì xuất phát điểm là thiết kế, nên việc suy nghĩ về bố cục, hoa văn, tỉ lệ và cách cài những lớp ý nghĩa vào một tác phẩm là phần Hiếu cảm thấy tự nhiên nhất. Đây cũng là nơi Hiếu có thể mang nhiều nhất những kinh nghiệm từ thời trang sang gốm”, anh nói.
Sự tự do ấy cũng mở đường cho những thử nghiệm riêng của Hiếu với gốm Biên Hòa. Trong tác phẩm Hy sinh và cứu rỗi, anh đưa biểu tượng về sự hy sinh của Đức Kitô đến gần hơn với văn hóa Việt bằng cách kết hợp cùng hình ảnh cây lúa nước, các hoa văn bản địa. Đó cũng là cách Hiếu tìm một điểm gặp giữa những câu chuyện về đức tin và văn hóa nơi mình sinh ra. Với Tỳ bà cúc dây, thử nghiệm lại nằm ở sự giao thoa giữa các dòng gốm: Hiếu đặt hoa văn và kiểu dáng của gốm Chu Đậu bên cạnh kỹ thuật men màu và chạm khắc của gốm Biên Hòa.
Trước mỗi lần thử nghiệm, Hiếu luôn muốn chắc đã hiểu đủ sâu về thứ mình đang chạm vào. “Hiếu không nghĩ truyền thống là một thứ bất biến. Nhưng trước khi thay đổi nó, ít nhất mình nên hiểu tại sao nó đã tồn tại được lâu như vậy. Hiếu nhận ra rằng, bản thân có thể đi xa nếu trước hết hiểu cái mình đang đứng trên đó”, anh nhận định.
Có lẽ thái độ ấy hình thành từ những ngày Hiếu Lê học nghề với nghệ nhân Dương Minh Tâm. Thầy dạy anh sự biết ơn với người đi trước, đồng thời tôn trọng chính vật liệu mình đang làm việc. “Gốm là lĩnh vực mà gần như không có gì mình tự nghĩ ra từ con số không. Một kỹ thuật, một công thức men, một kiểu dáng hay một cách xử lý bề mặt đều là kết quả của rất nhiều thế hệ thử nghiệm trước đó. Vì thế, mỗi lần làm một tác phẩm mới, bên cạnh việc cố gắng tạo ra điều gì đó của riêng mình, Hiếu cũng phải biết mình đang đứng trên những gì người trước đã để lại”, anh chia sẻ.
Gốm là lĩnh vực mà gần như không có gì mình tự nghĩ ra từ con số không. Một kỹ thuật, một công thức men, một kiểu dáng hay một cách xử lý bề mặt đều là kết quả của rất nhiều thế hệ thử nghiệm trước đó. – Hiếu Lê
Càng học, Hiếu càng nhận ra gốm Biên Hòa vốn chưa bao giờ là một dòng gốm khép kín. Nó hình thành từ sự giao thoa giữa kỹ thuật người Việt, kỹ nghệ người Hoa và những ảnh hưởng từ người Pháp. Vì thế, với Hiếu, những nguyên tắc được truyền lại không phải là giới hạn. “Ngược lại, chúng là nền tảng để mình biết đang phá vỡ điều gì và vì sao muốn phá vỡ nó. Rồi từ đó tìm cách đưa nó vào cuộc sống và đặt ra những câu hỏi của hiện tại”.
Vì thế, mỗi lần làm một tác phẩm mới, bên cạnh việc cố gắng tạo ra điều gì đó của riêng mình, Hiếu cũng phải biết mình đang đứng trên những gì người trước đã để lại. – Hiếu Lê
“Làm thế nào để những hình ảnh rất Việt Nam khi đi vào tác phẩm đương đại, vẫn giữ sự tự nhiên, thay vì trở nên hoài cổ hay quá minh họa? Hay nếu một câu chuyện Kitô giáo được kể bằng gốm Biên Hòa, bằng hoa văn Việt, bằng hình ảnh cây lúa, con cá, chim muông hay những biểu tượng gần gũi với đời sống người Việt thì nó sẽ trông như thế nào?” Hiếu vẫn không ngừng đặt ra những câu hỏi như vậy.
Một trong những tác phẩm đầu tay của Hiếu.
Nhưng anh cũng không cho rằng mình cần tìm ra câu trả lời duy nhất. “Có lẽ công việc của Hiếu lúc này chỉ là tiếp tục thử, tiếp tục học và tìm một ngôn ngữ mà trong đó đức tin, văn hóa Việt Nam và gốm có thể gặp nhau một cách tự nhiên.”
Có lẽ công việc của Hiếu lúc này chỉ là tiếp tục thử, tiếp tục học và tìm một ngôn ngữ mà trong đó đức tin, văn hóa Việt Nam và gốm có thể gặp nhau một cách tự nhiên. – Hiếu Lê
Cũng như trong buổi trò chuyện hôm ấy, hai thầy trò Dương Minh Tâm và Hiếu Lê vẫn say sưa nói với nhau về những điều rất nhỏ: màu men mới, kỹ thuật cần làm lại, hay những lò củi ngày xưa đang dần biến mất. Tôi ngồi nghe họ bàn về những lò nung có thể tạo ra hiệu ứng tự nhiên gần với cách nung truyền thống, như một cách giữ lại những điều tưởng chừng đang dần xa khỏi đời sống gốm hôm nay.
Trong lúc nghề gốm Biên Hòa vẫn chưa trở lại thời kỳ hưng thịnh, nhiều lò và xưởng đã đóng cửa, người thợ lần lượt rời nghề, sự bền bỉ của những người như thầy Tâm và Hiếu vì thế càng trở nên đáng quý. Một nghệ nhân giữ nghề bằng những năm tháng đã sống cùng đất và lửa; một người trẻ tiếp tục bước vào nghề bằng sự tò mò, học hỏi và đặt ra những câu hỏi của thế hệ mình. Có lẽ, chính từ những cuộc gặp như thế, một dòng gốm cũ đang được tiếp thêm lớp men mới.