
Leonardo DiCaprio chưa bao giờ chọn những vai diễn nhẹ nhàng. Trên màn ảnh, anh luôn đẩy nhân vật đến cực hạn: Howard Hughes dần mất trí, Jordan Belfort trượt dài trong khoái lạc và sự trống rỗng, hay Hugh Glass vật lộn với thiên nhiên để giành lại sự sống—biến Leonardo DiCaprio thành một trong những diễn viên vĩ đại nhất Hollywood.
Bộ phim mới nhất của anh, One Battle After Another (2025), tiếp nối truyền thống đó. Leonardo DiCaprio vào vai Bob Ferguson, thành viên của một tổ chức cách mạng mang tên French 75 đã hết thời. Anh đang cố gắng xóa bỏ quá khứ và tập trung nuôi dạy cô con gái tuổi thiếu niên Willa, do nữ diễn viên Chase Infiniti thủ vai. Bộ phim còn quy tụ dàn diễn viên đáng chú ý như Teyana Taylor trong vai người vợ đã ly dị, Benicio Del Toro trong vai đồng minh của Bob, và Sean Penn đảm nhận vai phản diện.
Nhìn thoáng qua, bộ phim mang dáng dấp của thể loại hành động với sự đầu tư hoành tráng cho các cảnh rượt đuổi và chiến đấu, có gián điệp, có cả yếu tố chính trị. Nhưng ở cốt lõi, One Battle After Another là câu chuyện về mối quan hệ cha – con, xoay quanh một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng đã ám ảnh nhân loại suốt hàng thế kỷ: “Làm thế nào để luôn ở bên người mình yêu thương?”. Từ đó, đạo diễn Paul Thomas Anderson khéo léo đặt để thêm những chi tiết trào phúng giữa nhịp phim nặng nề.

Đạo diễn kiêm biên kịch Paul Thomas Anderson từ lâu đã nổi tiếng với những kịch bản mang màu sắc bi kịch. Nhân vật trong phim của ông thường chất chứa sự yếu đuối và mâu thuẫn, từ Boogie Nights (1997), Magnolia (1999) đến There Will Be Blood (2007). Chính chiều sâu gai góc ấy đôi khi khiến phim của Anderson không dễ xem, nhưng lại luôn có một sức hút khó cưỡng.
One Battle After Another đánh dấu lần hợp tác đầu tiên giữa Paul Thomas Anderson và Leonardo DiCaprio: hai cái tên hiếm khi trả lời phỏng vấn nhưng luôn là đề tài yêu thích của truyền thông. Sau khi One Battle After Another ra mắt, cả hai đã có cuộc trò chuyện: một lần trong căn bếp nhà Leonardo, một lần qua điện thoại. Những cuộc đối thoại này đã được ghi lại, biên tập và rút gọn cho Esquire, hé lộ một góc nhìn hiếm hoi về suy nghĩ của hai trong số những nhân vật táo bạo nhất Hollywood.
Paul Thomas Anderson: Có điều gì khiến anh hối tiếc không?
Leonardo DiCaprio: Tôi sẽ nói thẳng, dù anh đang ngồi đây: điều tôi hối tiếc nhất là đã không tham gia Boogie Nights. Đó là một bộ phim có sức nặng đặc biệt với cả thế hệ của tôi. Tôi không thể tưởng tượng ai khác ngoài Mark [Wahlberg] cho vai đó. Khi cuối cùng cũng được xem phim, tôi chỉ có thể nghĩ: đây là một kiệt tác. Trớ trêu là chính anh lại hỏi câu này, nhưng đúng là như vậy.
Paul Thomas Anderson: Vì sao đến bây giờ anh mới hợp tác cùng tôi?
Leonardo DiCaprio: Tôi biết anh chuẩn bị cho One Battle After Another từ rất lâu. Ở nhiều khía cạnh, đó là câu chuyện cá nhân gắn liền với anh và chắc chắn đang gắn chặt với thế giới mà chúng ta đang sống. Nhưng cuối cùng thì lý do vẫn rất đơn giản: tôi đã muốn hợp tác với anh [Paul] suốt 20 năm qua và tôi rất thích ý tưởng về một nhà hoạt động chính trị “hết thời”, cố gắng quên đi quá khứ để sống một cuộc đời bình dị.
Paul Thomas Anderson: Đó là một nhân vật thú vị. Khi còn trẻ, anh ta khát vọng thay đổi thế giới, để rồi càng lớn tuổi càng trở nên cáu kỉnh và khép kín.
Leonardo DiCaprio: Và sống trong trạng thái hoang tưởng. Anh đã dựng nên một nhân vật kỳ lạ, pha trộn những niềm tin của hai phía đối lập và tất nhiên không bao giờ được vinh danh là ông bố của năm.
Paul Thomas Anderson: Không ai chạy trốn được những điều cuộc sống đưa đến. [Với Bob] đó là việc trở thành một người cha và chứng kiến thế hệ mới trưởng thành. Người đàn ông tuổi trung niên nhìn thế hệ sau bằng ánh mắt khinh thường, chỉ vì họ không làm mọi thứ theo cách mà anh nghĩ là đúng—mà thực ra họ chỉ không làm theo cách chúng ta từng làm. Kết quả là Bob bị bào mòn về thể chất lẫn tinh thần vì sự cáu kỉnh không đáng của anh ta.
Leonardo DiCaprio: Đặc biệt khi anh phải sống cùng những bí mật. Lựa chọn của Bob còn lại gì? Ngồi đó phê pha, say xỉn, xem lại những bộ phim cũ và từ chối sử dụng điện thoại di động. Chi tiết đó trở thành một chủ đề lớn của bộ phim.
Paul Thomas Anderson: Tôi sẽ hỏi anh một câu và anh trả lời nhanh nhất có thể. Nếu không biết mình bao nhiêu tuổi, thì ngay lúc này anh nghĩ mình bao nhiêu?
Leonardi DiCaprio: Ba mươi hai.
Paul Thomas Anderson: Câu trả lời hay đấy. Việc anh cần làm là lần lại xem chuyện gì đã xảy ra khi anh ba mươi hai, rồi anh sẽ khám phá vì sao mình trả lời như vậy, đây là cách anh liên hệ với các nhân vật trong phim: Anh ta yêu một người phụ nữ tên Perfidia. Cô ấy làm tan nát trái tim anh, chữa lành rồi lại đập vỡ; sau đó ghép lại, rồi đập vỡ thêm lần nữa cho chắc. Cô để anh mắc kẹt cùng quá khứ, để anh ngồi lì mà chịu cơn đau âm ỉ. Và tiện nói luôn, tôi hai mươi bảy tuổi.

Paul Thomas Anderson: Khi tôi tiếp cận anh cho vai diễn này, kịch bản đã hoàn thành tầm 80% nhưng chỉ có một chi tiết tôi chưa thể giải quyết: điện thoại di động.
Leonardo DiCaprio: Anh luôn bị ám ảnh bởi ý tưởng về một thế giới không có điện thoại.
Vậy mà anh còn đưa cho tôi ý tưởng Willa [con gái nhân vật chính Bob] nên “nổi loạn” bằng điện thoại thông minh. Đó thực sự là một ý hay, một cú xoay chuyển tức thì và phim đã hưởng lợi từ ý tưởng của anh.
Cốt lõi của vấn đề vẫn quy về sự cách biệt thế hệ mà anh đặt ra. Đồng thời, phản ánh thời đại chúng ta đang sống hoàn toàn khác so với thế hệ trước đó và thế hệ kế tiếp. Chúng ta nghĩ rằng mình hiểu, nhưng thực ra là không.
Paul Thomas Anderson: Nếu anh thuộc về một thế hệ thích thú với cảm giác tự hỏi không biết ai đó đang ở đâu, khi nào họ sẽ gọi lại, hay nghĩ rằng phải lao ngay về nhà để kiểm tra xem có ai gửi tin nhắn vào hộp thư thoại không, thì hãy tưởng tượng nếu có người nói với anh rằng anh có thể mang tất cả chúng theo trong túi quần. Từ góc nhìn của thế hệ con gái: tại sao tôi lại không cho người khác biết mình đang ở đâu mọi lúc? Tại sao tôi không thể quay mình nhảy múa theo những bài hát xu hướng rồi đăng chúng lên mạng xã hội?
Leonardo DiCaprio: Tôi nhớ hồi ở cạnh em gái và bạn bè của nó hỏi: “Hồi đó như thế nào?”. Tôi lớn lên trong thời còn hộp thư thoại, và khi đã hẹn thì phải đến đúng giờ, phải gọi từ điện thoại công cộng để kiểm tra máy trả lời xem họ có để lại lời nhắn không, xem họ có đến muộn không. Rồi lại phải gọi vào hộp thư thoại của họ để họ kiểm tra tin nhắn của mình đến chưa? Bọn nó bảo tôi: “Mấy người mà yếu khoản quản lý thời gian chắc chẳng thể nào nói chuyện với ai được”.
Paul Thomas Anderson: Anh còn nhớ khi chúng ta mới vào nghề không, nếu gặp những người thuộc thế hệ trước, đã thành danh ở Hollywood, họ có dịch vụ nhận cuộc gọi. Kiểu như: “Trời đất ơi, họ không cần kiểm tra hộp thư thoại vì họ đã có người lo dùm việc đó rồi”.
Leonardo DiCaprio: Tôi từng cố giải thích về máy nhắn tin. Nếu là chuyện gấp, anh sẽ để số của mình rồi thêm 911911911. Nghĩa là dừng ngay mọi thứ anh đang làm và gọi lại.
Paul Thomas Anderson: Nhưng máy nhắn tin thường là dành cho dân buôn lậu.
Leonardo DiCaprio: Không đúng. Ai cũng có máy nhắn tin cả.

Paul Thomas Anderson: Tôi thì chưa bao giờ dùng máy nhắn tin. Nhưng hình như những tay buôn mà tôi biết đều có.
Leonardo DiCaprio: Tất cả bạn bè tôi đều có. Họ kẹp nó vào cạp quần jeans và nghe tiếng beep beep beep thì liếc xuống : “À, thằng bạn chí cốt đang gọi kiếm mình đây mà”.
Paul Thomas Anderson: Đây là một câu hỏi Esquire muốn tôi hỏi: “Anh vừa bước sang tuổi năm mươi. Có cảm giác đây là một thời điểm tự nhiên để nhìn lại không?”
Leonardo DiCaprio: Tôi vừa bước sang tuổi ba mươi lăm (về mặt cảm xúc).
Paul Thomas Anderson: Tuổi sinh học của anh là năm mươi, nhưng độ trưởng thành mới ba mươi hai. Nghe thế thì anh thấy sao?
Leonardo DiCaprio: Vậy là họ đang hỏi về tuổi thực à?
Paul Thomas Anderson: Họ đang hỏi liệu đây có phải là một thời điểm để suy ngẫm lại cuộc đời không?
Leonardo DiCaprio: Ừ, cột mốc đó tạo ra một cảm giác rằng anh muốn sống thành thật hơn và không còn muốn lãng phí thời gian nữa. Tôi chỉ có thể hình dung vài thập kỷ tới sẽ trôi qua như thế nào. Nhìn mẹ tôi chẳng hạn, bà nói đúng những gì mình nghĩ và không phí thời gian. Bà chẳng bao giờ giả vờ với ai cả
Việc thẳng thắn hơn, chấp nhận rủi ro, chấp nhận những bất đồng, hay thậm chí chấp nhận mỗi người một ngả trong các mối quan hệ đều chỉ ra rằng anh không còn muốn lãng phí thời gian nữa. Anh buộc phải trực diện hơn rất nhiều vì thời gian anh đã sống nhiều hơn thời gian anh sẽ sống rồi.
Paul Thomas Anderson: Câu trả lời hay đấy.

Leonardo DiCaprio: Anh tốn 20 năm để viết nên kịch bản, điều gì ở bộ phim này khiến anh sẵn sàng dành nửa đời người cho nó?
Paul Thomas Anderson: Phim chủ đề chính trị đôi khi giống như việc ăn rau—biết là tốt, nhưng không phải lúc nào cũng muốn. Vẫn có những bộ phim chính trị tuyệt vời, nhưng vào thời điểm này, điều duy nhất tôi muốn xem là một câu chuyện mà tôi có thể liên hệ được. Và thứ duy nhất thực sự quan tâm là cảm xúc. Cảm xúc đến từ câu chuyện của một gia đình. Nó đến từ cách chúng ta yêu và ghét. Khi phim bắt đầu “giảng đạo”, tôi sẽ ngừng nghe. Ta không thể theo kịp trạng thái của thế giới và đó là lý do tôi muốn tập trung vào những thứ không bao giờ lỗi thời. Câu hỏi của phim là: một người cha có thể tìm lại con gái mình không? Hoặc: gia đình rốt cuộc là gì?
Leonardo DiCaprio: Anh thường được xem là một đạo diễn rất “arthouse”. Anh có tự gọi mình như vậy không? Hay anh gọi nó là gì?
Paul Thomas Anderson: Ừm, đâu cần phải xúc phạm thế.
Leonardo DiCaprio: Không, ý tôi là anh muốn được gọi bằng thuật ngữ nào? Nói thế này cho dễ: anh không làm những bộ phim hướng đến lợi ích thương mại. Anh vừa là biên kịch, vừa là đạo diễn. Anh có tầm nhìn riêng. Vậy gọi là gì?
Paul Thomas Anderson: Một nhà sản xuất thất thu?
Leonardo DiCaprio: Không. Anh vẫn rất trân trọng những bộ phim kinh phí lớn, như Marvel chẳng hạn. Tôi từng nghe anh nói về Terminator 2, về chuyện đi học làm phim và có người bảo: “Nếu anh đến đây để làm Terminator 2 thì anh đi nhầm chỗ rồi”. Và anh nói: “Thôi đi, Terminator 2 là một bộ phim xuất sắc”. Với tôi, đây [One Battel After Another] là phiên bản phim hành động của Paul Thomas Anderson. Tôi đã bất ngờ khi thấy kịch bản có đoạn rượt đuổi xe. Paul sẽ làm điều gì mà chúng ta chưa từng thấy anh ấy làm, nhưng vẫn rất “Paul”?

Paul Thomas Anderson: Hai mươi năm trước, tôi bắt đầu viết câu chuyện này, và ban đầu đơn giản chỉ là một bộ phim hành động với những màn rượt đuổi xe. Cứ vài năm tôi lại xem lại. Có lúc tôi nghĩ mình muốn chuyển thể cuốn Vineland của Thomas Pynchon (một cuốn sách viết vào thập niên 80, nói về thập niên 60). Nhưng rồi lại chuyển sang một mạch truyện về một nữ chính trị gia. Nói cách khác, suốt hai mươi năm, tôi có tất cả tuyến truyện khác nhau và bằng một cách nào đó, chẳng cái nào thực sự lỗi thời—bởi bất cứ điều gì đang diễn ra về mặt chính trị năm nào cũng giống nhau. Cùng là một mớ rắc rối.
Leonardo DiCaprio: Nhiều người nói One Battle After Another dựa trên Vineland. Tôi chưa từng đọc Vineland. Anh cũng chưa bao giờ kể tôi về nó. Có rất nhiều tham chiếu đến những gì xảy ra với những nhà hoạt động chính trị trẻ hậu thập niên 60 trong phim của anh.
Paul Thomas Anderson: Vineland luôn là một tác phẩm quá khó để chuyển thể, nên tôi “chôm” những phần mình xử lý được cho kịch bản của mình. Tôi đoán đó là việc tất cả những người viết lách đều làm: chúng ta là lũ trộm. Tôi luôn thích cấu trúc của Les Misérables: hồi đầu hoang dại và điên cuồng, rồi sau đó câu chuyện lắng lại, và anh buộc phải nhặt nhạnh những mảnh vỡ của đống đổ nát, hoặc đối mặt với những lựa chọn mình đã đưa ra ở hồi đầu. Đó là một cấu trúc kịch rất tuyệt vời.
Leonardo DiCaprio: Trong phim có những chủ đề gợi đến Star Wars và Terminator 2. Khá thú vị khi thấy anh kết hợp tầm nhìn của mình về những câu chuyện chính trị mà mọi người đang bàn luận với những chủ đề rất gần gũi, dễ chạm tới với số đông khán giả.
Paul Thomas Anderson: Những hình tượng mang tính huyền thoại ấy (ít nhất là những nguyên mẫu mà các nhân vật Star Wars dựa trên) đã tồn tại từ rất lâu, và chúng không bao giờ lỗi thời. Đấy là những câu chuyện kinh điển vì đó là một mô-típ rồi. Một đứa trẻ được chọn, những thế lực đối nghịch thèm thuồng tài năng của nó—cũ mà hay và chắc chắn rất hợp thời đại biến thiên này. Cái gì không hỏng thì đừng sửa.

Leonardo DiCaprio: Nhân vật của tôi không phải kiểu anh hùng có siêu năng lực hay khả năng đặc biệt nào như trong Terminator cả. Anh ta chỉ là không chịu bỏ cuộc.
Paul Thomas Anderson: Ừ, điều đó lại khiến tôi nhớ đến…
Leonardo DiCaprio: The Bad News Bears (1976). Anh ta thuộc kiểu The Bad News Bears của những ông bố anh hùng thời hiện đại.
Paul Thomas Anderson: Đúng vậy. Bob có rất nhiều nét của Walter Matthau trong The Bad News Bears. Khi tôi xem loạt Mission: Impossible (1996-), chúng thường mở đầu bằng một đoạn mã mà Tom Cruise phải xác nhận. Tôi hay nghĩ: điều gì sẽ xảy ra nếu Ethan Hunt quên mật mã đó? Rồi đầu dây bên kia sẽ kiểu: “Không sao đâu. Tôi biết anh là Ethan Hunt rồi, vào việc luôn nhé”. Hay họ sẽ nói: “Xin lỗi, tôi biết anh là Ethan Hunt, nhưng tôi vẫn cần mật khẩu”.
Leonardo DiCaprio: Chúng ta đã nói chuyện rất nhiều về việc tạo ra một nhân vật anh hùng mà vẫn có cảm giác thân thuộc. Anh nói với tôi rằng sức mạnh nằm ở sự theo đuổi không ngừng nghỉ, muốn bảo vệ con gái mình, không bỏ cuộc, luôn có mặt vì con. Đây là câu chuyện về một người cha và con gái, và về việc anh sẽ làm gì khi ở vào vị trí đó, ngay cả khi phải đối mặt với mọi nghịch cảnh. Có lúc chúng tôi bàn tới việc đẩy anh ta đến mức cực đoan kiểu John Wick (2014). Tôi nói: Không, cho tôi một khẩu súng dỏm đi, hoặc nếu không có súng thì sao? Loại bỏ bạo lực là chìa khóa để mở tâm can con người.
Paul Thomas Anderson: Tôi cũng thấy thú vị ở chỗ chúng ta chưa bao giờ thật sự biết chính xác câu chuyện sẽ kết thúc như thế nào. Nhưng tôi thích đoạn kết. Trọng tâm kịch tính nằm ở khoảnh khắc Willa hỏi: “Ông là ai?” Và việc cứu lấy mọi thứ chính là khi anh nói: “Tôi là bố của con”.
Leonardo DiCaprio: Và đó mới là ý nghĩa của toàn bộ phim.
Paul Thomas Anderson: Đó mới là anh hùng. Anh hùng hơn cả việc bắn ai đó. Cứu con bé bằng cách nói: “Bố là người đã ở đây suốt từ đầu. Bố là bố của con”.

Paul Thomas Anderson: Nếu là một ngày thứ Bảy, tôi lướt kênh và tự hỏi mình muốn xem gì, thì khả năng cao tôi sẽ dừng lại ở một bộ phim có yếu tố phiêu lưu–hành động. Cái tên bật ra đầu tiên trong đầu tôi luôn là Midnight Run (1988). Từ lần đầu xem, tôi đã mơ ước được làm một bộ phim vui và sảng khoái như thế.
Leonardo DiCaprio: Một kiệt tác.
Paul Thomas Anderson: Đúng tuần phim ra rạp, tôi xem đến ba, bốn lần. Với tôi, đó là đỉnh cao của một bộ phim dành cho đại chúng. Chúng ta hay xếp phim hành động vào dạng không cần quá nghiêm túc. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, như Mad Max (2015), nhưng nhìn chung ta vẫn tách biệt phim hành động với những câu chuyện chính kịch như thể không thể vừa diễn xuất tốt vừa lái xe. Nhưng Midnight Run thì có đủ mọi thứ.
Leonardo DiCaprio: Gần đây tôi cũng nhắc đến bộ phim đó, và một danh hài rất nổi tiếng đã nói với tôi: “Có thể đây là phim hài xuất sắc nhất từng được quay. Quá tuyệt vời”. Khi bố tôi nói với tôi về diễn xuất là gì, ông đã đưa tôi đến rạp ở Burbank để xem Midnight Run. Ông bảo: “Con muốn làm diễn viên à? Thằng đó kìa—đó mới là diễn xuất.”
Paul Thomas Anderson: Anh có bao giờ xem lại những bộ phim cũ của mình không?
Leonardo DiCaprio: Tôi hiếm khi xem lại phim của mình, nhưng nếu nói thật thì có một bộ tôi xem nhiều hơn những bộ khác—The Aviator (2004). Đơn giản vì đó là một khoảnh khắc rất đặc biệt với tôi. Tôi đã làm việc với Marty Scorsese trong Gangs of New York (2002), và tôi mang theo cuốn sách về Howard Hughes suốt mười năm. Tôi suýt đã sản xuất phim đó cùng Michael Mann, nhưng có trục trặc, rồi cuối cùng tôi mang nó đến cho Marty.
Khi ấy tôi ba mươi tuổi. Lần đầu tiên, với tư cách diễn viên, tôi cảm thấy mình thực sự là một phần của quá trình sản xuất, chứ không chỉ là người được thuê để đóng vai. Tôi cảm nhận trách nhiệm theo một cách hoàn toàn mới. Tôi luôn tự hào vì mình gắn bó với bộ phim đó như một cột mốc lớn trong quá trình trưởng thành của tôi trong ngành này, và là lần đầu tiên tôi thực sự trở thành một người cộng tác đúng nghĩa.
Paul Thomas Anderson: Tôi có thể dừng lại buổi trò chuyện và xem bộ phim đó ngay lúc này.
Leonardo DiCaprio: Chúng ta nên chuyển sang chủ đề về Adam*.
Paul Thomas Anderson: Ừ.
*Adam Somner là trợ lý đạo diễn từng làm việc với Martin Scorsese, Steven Spielberg, Ridley Scott và Paul Thomas Anderson trước khi qua đời vì ung thư vào năm ngoái. Anh được ghi danh là nhà sản xuất của One Battle After Another.

Leonardo DiCaprio: Không có ai giống như anh ấy. Một con người có thể đẩy mọi thứ đến cực hạn để rồi bằng cách nào đó đưa tất cả vào đúng trật tự là một trong những điều kỳ diệu nhất tôi từng chứng kiến. Adam đã làm việc với những đạo diễn vĩ đại nhất thế giới, và họ hoàn toàn tin tưởng anh ấy.
Điều đó cho phép tôi quan sát cách anh, hay một người như Marty xoay xở với vô số bộ phận, vô số câu hỏi cùng lúc. Có lẽ cũng vì thế mà tôi không có thôi thúc trở thành đạo diễn. Tôi còn đang vật lộn chỉ để nghĩ xem câu thoại này nên được nói thế nào. Tôi có thể xoáy sâu hàng giờ chỉ vì một câu. Tôi biết mỗi lần nhắc đến Adam là chúng ta đều xúc động, nhưng thực sự không có ai giỏi hơn anh ấy.
Paul Thomas Anderson: Với tôi và anh, chúng ta đã muốn làm việc cùng nhau suốt hai mươi lăm năm. Và rồi mọi thứ chỉ xảy ra khi thời điểm thực sự chín muồi. Nhưng Adam, anh ấy luôn nói với tôi: “Bắt đầu đi. Hai người sẽ mê bộ phim này lắm. Tôi nói thật, vì tôi đã làm việc với cả hai người riêng rẽ rồi. Bây giờ là thời cơ”.
Leonardo DiCaprio: Tôi không hề biết chuyện đó.
Paul Thomas Anderson: Adam đã “mai mối” cho chúng ta và anh ấy đã thành công. Có rất nhiều người xếp hàng chờ được làm việc với anh ấy. Tôi muốn nghĩ rằng mình đứng đầu hàng, nhưng ai cũng biết Steven [Spielberg] mới là người đứng đầu vì Steven là vua đạo diễn. Nhưng mỗi khi đưa kịch bản cho Adam và chờ phản hồi của anh ấy là vô giá. Adam sẽ không nói là hay nếu nó không hay. Điều đó đáng giá hơn tất cả. Khi anh bị vây quanh bởi chính những bất an và sự tự tin của mình thì có một chỗ dựa đáng tin, có gu và có tài bên cạnh là tất cả những gì anh có thể ước. Adam còn biết cách hỗ trợ diễn viên: giữ phim trường yên tĩnh, mát mẻ, để họ làm việc. Đó là lý do Daniel Day-Lewis sẽ không bao giờ bước lên phim trường nếu không có Adam Somner ở đó. Vì khi ấy, anh cảm thấy an toàn.
Leonardo DiCaprio: Tôi nhớ đã nghe Marty kể về Adam khi chúng tôi quay cảnh thác loạn trong The Wolf of Wall Street (2014). Khi đó, chúng tôi có người điều phối cảnh nóng và có lẽ đấy là lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh có cảnh thác loạn kiểu bạo chúa Caligula trên một chiếc Boeing 747. Adam là người làm việc trực tiếp với với điều phối viên ấy, và mọi thứ vận hành quá mức trơn tru. Adam sẽ nói: “Đoạn nhạy cảm, đoạn nhạy cảm, đứng qua đây, đoạn nhạy cảm, đoạn nhạy cảm”. Với Marty, mọi thứ giống như đã được cài đặt sẵn cho anh ấy.
Paul Thomas Anderson: Tôi không biết sau này sẽ thế nào khi không có anh ấy.

Leonardo DiCaprio: Chase [Infiniti] thật sự xuất sắc.
Paul Thomas Anderson: Đúng vậy, diễn xuất của cô ấy thật sự tuyệt vời.
Leonardo DiCaprio: Quá trình thử vai tốn một thời gian dài, và thời điểm anh nói “Đây rồi!” và tôi cũng nói “Đúng, chính là cô ấy”, và đây còn là bộ phim đầu tay nữa chứ.
Paul Thomas Anderson: Chúng ta bắt đầu những ngày quay hình bằng các phân đoạn giữa anh và cô ấy. Tôi đã nghĩ trong đầu: “Nay là ngày đầu cô bé lên trường quay, chắc là sẽ run đây”. Nhưng thực tế lại ngược lại với tưởng tượng trong đầu tôi, hoặc có thể cô ấy run nhưng chúng ta không thấy được. Điều quan trọng là cô ấy thể hiện sự chuyên nghiệp ngay từ đầu. Chúng ta quay cảnh kết ngay ngày đầu và nghĩ rằng chắc không để vào phim đâu, cứ quay trước đã rồi tính sau. Vậy mà rốt cuộc, tôi nghĩ chúng tôi đã bắt được một điều gì đó rất kỳ diệu.
Leonardo DiCaprio: Cảnh cuối thực sự, thực sự rất xúc động. Và rồi cả phân đoạn của Teyana [Taylor] biến cảnh cuối hoàn toàn tuyệt vời. Khả năng ứng biến và nhập vai của cô ấy thật đáng kinh ngạc.
Paul Thomas Anderson: Teyana làm tốt nhất khi anh cho phép cô ấy bung hết cỡ. Cứ để cô ấy “cook”, và anh cứ quay là cách hiệu quả nhất.
Leonardo DiCaprio: Và không thể không nhắc đến Sean [Penn].
Paul Thomas Anderson: Kể cả với chúng ta hồi đó, anh ấy đủ chững chạc như một người hùng. Nhìn anh ấy, tôi luôn cảm thán: “Wow, đó mới là một diễn viên, đó mới là một người đàn ông”.
Leonardo DiCaprio: Sau khi quen anh ấy lâu như vậy, tôi chỉ thấy rất vui vì Sean có được một vai diễn như thế này, bởi đây không phải là vai mà anh ấy thường nhận. Anh biết chắc Sean sẽ mang đến một yếu tố gì đó lệch pha khác thường. Và tiếc thay, tôi chỉ được đóng chung với anh ấy đúng một cảnh.
Paul Thomas Anderson: Cảnh trong siêu thị, đúng không? Tôi sẽ luôn nhớ ngày quay hôm đó, nhất là khi anh ấy hỏi: “Chúng ta có cần đóng cửa cả siêu thị này không?” Và tôi nói: “Không, mình cứ quay thôi”, rồi cô thu ngân ở quầy tính tiền rút điện thoại ra chụp hình anh.
Leonardo DiCaprio: Anh có thích ý tưởng về sự “hỗn loạn có kiểm soát” trong cách làm việc không?

Paul Thomas Anderson: Có. Nhưng không phải lúc nào cũng tốt. Anh phải biết chọn thời điểm phù hợp. Chúng tôi từng quay một cảnh trong Punch-Drunk Love (2002), Adam Sandler đứng trên đường phố Honolulu, gọi điện thoại cho Emily Watson trong phòng khách sạn. Cảnh đó rất tuyệt. Nhưng lúc đứng ở đó, tôi nghĩ: “Ừ, tốt đấy, nhưng năng lượng vẫn hơi thấp, mà mình cũng không biết phải làm gì thêm để sửa”.
Paul Thomas Anderson: Đến lúc chuẩn bị kết thúc ngày quay, có người nói: “Anh không thể để xe tải ở đây được đâu. Ngày mai có lễ diễu hành lớn của cộng đồng người Mỹ gốc Nhật” và dĩ nhiên chúng tôi nói: “Khoan đã, có diễu hành à? Vậy mình đặt buồng điện thoại ngay đó và quay giữa đoàn diễu hành để quay luôn”.
Đó là kiểu tình huống mà có một thứ gì đó xuất hiện có thể khiến anh thất bại. Nhưng cũng có lúc anh bắt được khoảnh khắc thần thánh. Trong một cuộc gọi, nhân vật của Adam đáng lẽ phải nổi giận dữ dội với chị gái mình (anh ấy cũng đang lên tới đó, nhưng chưa hẳn). Rồi đoàn trống tiến lại, đánh những nhịp trống mang tính bộ lạc đúng lúc anh ấy cần đạt đến đỉnh cảm xúc. Âm nhạc tác động trực tiếp đến anh ấy và anh ấy bùng nổ và hoàn toàn mất kiểm soát.
Leonardo DiCaprio: Kiểu khoảnh khắc “I’m walking here!” trong Midnight Cowboy (1969) đúng không?
Paul Thomas Anderson: Đúng vậy. Chúng tôi khá may mắn với những thứ như thế trong bộ phim đó. Có cảnh chúng tôi quay dưới gầm đường cao tốc, chỉ cách biên giới Tijuana khoảng bốn mươi feet, trong lúc đang “đột kích” trại nhập cư. Tôi không thể phân biệt được đâu là người nhập cư thật đang lén băng qua biên giới, đâu là diễn viên quần chúng mà chúng tôi thuê. Không ai phân biệt được cả. Tôi nhìn họ đi ngang phía sau khung hình và tự hỏi người này là diễn viên nền hay là người đang thực sự vượt biên? Và hóa ra là những người thật.
Leonardo DiCaprio: Kể tôi nghe về câu thoại của nhân vật Benicio đi, về sự tự do ấy.
Paul Thomas Anderson: Đó là một câu của Nina Simone. Một phóng viên hỏi: “Tự do với bà là gì?” Và bà trả lời: “Tôi sẽ nói cho anh biết tự do là gì. Không sợ hãi. Đó chính là tự do”. Câu đó không có trong kịch bản, nhưng càng quay sâu, nó càng vang lên trong đầu tôi và trên trường quay tôi đã thêm vào bất chợt. Và như một triết lý sống, điều đó chắc chắn đúng với tôi. Tự do là không sợ hãi và tôi hy vọng rằng ai cũng sẽ đạt được điều đó.

Leonardo DiCaprio: Anh nhìn nhận tình trạng của ngành điện ảnh hiện nay thế nào?
Paul Thomas Anderson: Tôi đang cố sống để không cần phải níu giữ bất kỳ mảnh vụn nào của “thời xưa cũ”. Người ta gọi đó là phủ nhận và hoài niệm. Trớ trêu là phần hay nhất của cuộc sống chính là liên tục tiến về phía trước. Thời gian chỉ đi theo một hướng, nên tốt nhất hãy bám chặt.
Paul Thomas Anderson: Mọi cơn hoảng loạn kiểu “bầu trời sắp sập” đều đã từng diễn ra và trở lại bình thường, tốt nhất là giữ bình tĩnh và tập trung vào thứ trước mắt. Phần còn lại chỉ là nhiễu. Tôi yêu ngành của mình. Tôi đã thấy nó thăng hoa, rồi tự ăn thịt mình, rồi quay lại mạnh mẽ hơn, rồi lại mắc những sai lầm cũ. Nhưng xuyên suốt tất cả, nó vẫn đứng vững. Hay nói cách khác: “Mày chưa bao giờ hạ gục được tao, Ray à”.
Leonardo DiCaprio: Raging Bull (1980) ư?
Paul Thomas Anderson: Câu này không phải của tôi mà là của Esquire: “Anh dốc rất nhiều cho mỗi vai diễn. Khi quay xong, anh làm gì để hạ nhiệt?”
Leonardo DiCaprio: Trời ạ.
Paul Thomas Anderson: Anh hồi phục thế nào?
Leonardo DiCaprio: Trớ trêu là tôi đang ở trên một chiếc du thuyền ngoài khơi Croatia.
Paul Thomas Anderson: Tôi cũng chẳng mong gì khác. Để tôi hỏi lại: anh có cảm giác trống rỗng khi quay xong không? Vì tôi thì có. Anh tránh cảm giác đó thế nào?
Leonardo DiCaprio: Tôi nghĩ nghỉ khá lâu giữa các phim. Tôi chọn lọc kịch bản kỹ hơn, nên khi quay xong, tôi rất quay lại cuộc sống thật của mình. Khi anh quay phim, cuộc sống như bị đặt tạm sang một bên. Có lẽ tôi sẽ lo hơn nếu mình làm việc quá nhiều. Nếu cứ phim này sang phim khác, tôi nghĩ mình sẽ đánh mất bản thân. Tôi thấy mình rất may mắn vì điều đó.
Paul Thomas Anderson: Nghe hợp lý. Đôi khi, khi một bộ phim bắt đầu, rất khó để quen với nó xa rời đời sống bình thường ra sao. Rồi khi tất cả kết thúc một trăm ngày sau, việc quay lại nhịp sống thường ngày thực sự rất khó.
Leonardo DiCaprio: Theo tôi, chuyện đó còn khó hơn nhiều với đạo diễn. Chúng tôi được về nhà, quay lại nhịp sinh hoạt bình thường theo một cách rất khác cho đến khi bước vào giai đoạn quảng bá.
Paul Thomas Anderson: Và điều đó dẫn tôi đến câu hỏi tiếp theo mà Esquire muốn tôi hỏi: “Anh lo lắng điều gì? Điều gì khiến anh mất ngủ?” Ngoài việc lỡ nói linh tinh khi đi quảng bá phim. Thôi, câu này khỏi trả lời nhé.
*Ê-kíp thực hiện*
Nhiếp ảnh và phỏng vấn: Paul Thomas Anderson
Stylist: Warren Alfie Baker
Làm tóc và makeup: Kara Yoshimoto Bua từ A-frame Agency
Tailoring: Suzy Yun
Sản Xuất: Jill Roy thuộc 3star Productions
Giám đốc Hình ảnh: Pearl Minnie Anderson
Dựng phim: Sam Miller

